Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Bài 17


Bài đọc thêm :
CỬU TINH SINH KHẮC NGŨ HÀNH

Sinh khí thuộc 
Tham Lang tinh, Dương mộc Thượng kiết.
Thiên y thuộc
 Cự Môn tinh, Dương thổ, Thượng kiết.
Phức Đức thuộc 
Vũ Khúc tinh, Dương kim, Thứ kiết.
Phục vị thuộc 
Tả Phù tinh (Có sách chép là Tả Bồ), Âm thủy, Thứ kiết.
Ngũ quỷ thuộc 
Liêm Trinh tinh, Âm hỏa, Đại hung.
Tuyệt mạng thuộc 
Phá Quân tinh, Âm kim, Đại hung.
Lục sát thuộc 
Văn Khúc tinh, Dương thủy, Thứ hung.
Họa hại thuộc 
Lộc Tồn tinh, Âm thổ, Thứ hung. Tham - Cự - Vũ - Văn thuộc Dương tinh.
Lộc - Tả - Liêm - Phá thuộc Âm tinh. 

Càn Khảm Cấn Chấn thuộc dương cung (Phía trên của Hà Đồ tương quan Địa cầu).
Tốn Ly Khôn Đoài thuộc âm cung (Phía dưới Hà Đồ tương quan Địa cầu).
Cung Phi của gia chủ ở giữa; Tinh tám hướng ở ngoài. Sách viết:
Trích:
Nội khắc ngoại bán hung. Ngoại khắc nội toàn hung. Duơng tinh khắc âm cung bất lợi nữ. Âm tinh khắc dương cung bất lợi nam. Ví dụ: Có người day cửa hướng Khảm mà phạm 
Lộc tồnLộc tồn là thổ tinh và âm tinh tức nó khắc dương Khảm cung, thuộc thủy. Cung Khảm là trung Nam thì bất lợi cho trung Nam.
Đoạn này rất quan hệ nên hiểu rỏ.
Giải nghĩa: Người hướng Khảm phạm Lộc tồn tức là gia chủ thuộc Tây tứ cung - phi cung Đoài nhà hướng Bắc - phạm Họa Hại, thuộc Lộc tồn tinh. NIÊN NGOẠI KIẾT HUNG ỨNG
Sách viết:
Trích:
* Sanh khí, Phục vị Hợi, Mẹo, Mùi . Hai vị này ứng năm và tháng Hợi Mẹo Mùi.
Diên Niên, Tuyệt Mạng Tỵ, Dậu, Sửu. Ứng năm và tháng Tỵ Dậu Sửu.
Thiên Y, Lộc Tồn tứ thổ cung, ứng năm và tháng Thìn Tuất Sửu Mùi.
Ngũ Quỷ hung niên Dần Ngọ Tuất, ứng năm tháng Dần Ngọ Tuất.
Lục Sát ứng tại Thân Tý Thìn. Dùng phạm Lục Sát ứng năm vào tháng Thân Tý Thìn.
Đến tháng và năm ứng thì kiết ứng kiết, hung ứng hung.
NGHIỆM QUÁI CÁT HUNG

Sách viết (Lược dịch)

Trích:
Đệ nhứt cát tinh là Sinh khí. 
Gia chủ phi cung được phương Sinh Khí khả năng sinh 5 con, đều có quan chức , phú quý. Gia đinh dồi dào, nhiều khách đến nhà đến năm và tháng Hợi, Mẹo, Mùi rất vượng.
Đệ nhị cát tinh là Thiên Y. 
Gia chủ phi cung được phương Thiên y sinh ba con. Giầu thiên kim ít bệnh tật. Gia đinh , chăn nuôi đều rất tốt. Đến các năm tháng Thìn, Tuất, Sữu, Mùi có tài lộc.Đệ tam cát tinh là Phúc Đức: 
Gia chủ phi cung được hướng Phúc Đức, trong nhà hòa thuận. Nếu bếp quay hướng này thì có 4 con, gia đình khá giả, sống lâu, tiền bạc dồi dào. Gia đinh và chăn nuôi đều phát triển.Ứng vào năm và tháng Tị Dậu Sửu 
Đệ tứ cát tinh là Phục vị: 
Gia chủ phi cung được hướng Phục Vị. Đắc chí một thời, tương đối khá giả , ngày ngày có tiểu lợi , thuộc hạng trung bình . Nhà con gái đông hơn con trai. Hướng bếp quay về Phục Vị - năm Thiên Ất quí nhân đáo hướng khả năng sinh con quí tử.
Trích:
Tối hùng duy thượng 4 kiết nghi an trang, khai đại môn phòng môn, an hương hỏa, Thổ địa, Từ đường, Thương phố đăng loại cụ nghi hiệp tứ kiết phương, kỵ tứ hung phương.
Sách viết:
Đệ nhứt hung tinh viết:
Tuyệt mạng. Trạch nội phương hướng. Bổn mạng phạm thử, chủ tuyệt tự, thương tử (hại con cái), vô thọ (không sống già), tật bệnh, thối tài bại điền súc, thương nhơn khẩu (bị người mưu hại). Ứng vào năm và tháng Tị Dậu Sửu.
Đệ nhị hung tinh viết:
Ngủ Quỷ, Giao chiến. Phạm thử chủ: Nô bộc đào tẩu (tôi tớ phản trốn) thất tặc, ngủ thứ (bị 5 lần trộm cướp) hựu kiến hỏa tai hoạn bệnh, khẩu thiệt, thối tài, bại điền súc, tổn nhơn khẩu. Lâm nạn vào năm và tháng Dần Ngọ Tuất.Đệ tam hung tinh viết: 
Lục sát, Du hồn. Phạm chi chủ: thất tài, khẩu thiệt. Bại điền súc (tiêu mòn ruộng vườn, súc vật)thương nhơn khẩu. Ứng hại vào năm và tháng Thìn Tuất Sửu Mùi.
Đệ tứ hung tinh viết:
Họa hại, Tuyệt thể. Phạm chi chủ hửu quang phi (thị phi quang sự) bệnh tật, bại tài (suy sụp), thương nhơn khẩu. Ứng bại vào năm tháng Thìn Tuất Sửu Mùi.
NHẬN XÉT:
Phàm bổn mạng 4 Kiết tinh nên trang nghi để cửa ngỏ dừng buồng, chổ thờ phượng, đặt kho đụng là tốt. Còn 4 hung tinh nên đặt cầu xý, hầm phân, cối xay giả đá mài, giặt rửa để yểm trấn hung thần thì khỏi lo tai nạn, lại đặng may mắng đến. Nên tin lấy mà dè dặt.
Anh chị em lưu ý:
Trên đây là dẫn nguyên văn sách Bát Trạch Minh Cảnh. Bởi vậy tính chất Ngũ hành của các sao sẽ có phần sai biệt sau khi chúng ta học tới yếu tố tương tác của "Cấu trúc hình thể trong Phong thủy Lạc Việt" (Cách gọi khác cho Dương trạch Tam yếu). Bài này, chú yếu là giới thiệu với anh chị em về cách tính năm tháng ngày giờ ứng với việc hung cát do các sao tạo ra. Sự nghiệm ứng này tùy tính ngũ hành của sao. Nguyên tắc là: Thuộc Hỏa thì Dần Ngọ Tuất, Thuộc Kim thì Tỵ Dậu Sửu, thuộc Mộc thì Hợi Mão Mùi, thuộc Thủy thì Thân Tý Thìn. Sau này khi đổi lại một số hành của sao, anh chị em cũng cứ theo nguyên tắc này mà luận.

Bài 16


ĐẠI MÔN
(chánh)
Trích:
Sách 
Thông Thiên Chiếu Thủy kinh viết:

1) Quỷ nhập lôi môn thương trưởng tử.
2) Hỏa kiến Thiên môn thương Lão ông.
3) Ly xâm Tây Đoài phương thương nữ,
4) Tốn nhập khôn vị mẫu ly ông.
5) Đoài phòng Chấn, Tốn trưởng nhi nữ.
6) Cấn Ly âm phụ hoai gia phong.
7) Cấn Khảm tiêu khẩu đa tật bệnh,
8) Khôn Khảm trung Nam mạng tảo chung. 


Hiệu chỉnh và lý giải theo Bát trạch Lạc Việt

Câu 1: Quỷ nhập lôi môn thương trưởng tử. 
Quỷ là Ngũ quỷ thuộc Liêm trinh Hỏa, lôi môn, lôi là Chấn Mộc. Chấn phạm Ngũ quỷ tức Chấn phối với Càn. hoặc gia trạch chủ Càn tu tạo cửa phương Chấn, đều gọi phạm Ngũ quỷ là đại hung.
Đại môn phương Càn, khởi tạo phòng ốc hướng Đông Chấn cũng là hung. Bởi Càn thuộc Âm Kim đới Thủy xung Chấn Mộc, do thuộc Đông - Tây trạch, Chấn thuộc trưởng nam nên ứng hại trưởng tử (xem lại Hậu Thiên Bát Quái Lạc Việt).

Càn cung thuộc Tây tứ trạch. Chấn cung thuộc Đông tứ trạch, Tây phối Đông không hạp, bất cứ người mạng nào ở đó cũng hung. An trang (lập bàn thờ) hướng Chấn cũng kỵ người mạng Càn, cửa bếp hướng Chấn cũng hại trưởng tử, cưới tuổi Chấn sanh con cũng khó khăn, hoặc tạo phòng hướng Chấn đến ngày tháng ứng hung với trưởng tử ( xem niên ngoại ứng kiết hung sau đây) . Nam nữ mạng Càn đường ra vào hướng Chấn cũng hung.

Câu 2: Hỏa kiến thiên môn thương Lão Ông
Hỏa là cung Ly (Ly vi Hỏa) Thiên môn, Thiên là cung Càn (Càn vi Thiên) Càn phối Ly phạm Tuyệt mạng là cung khắc cung Đại môn, hướng Ly Hỏa khắc phòng trang Càn phương thuộc Âm Kim đới Thủy. Càn thuộc Cha tức là hại đến lão ông vậy (Xem niên ngoại ứng kiết hung)
Câu 3: Ly xâm Tây Đoài phương thương thiếu nữ.
Đại môn chánh Nam, Ly Hỏa khắc Tây Đoài Kim trang phòng (Dựng phòng) cũng khắc như câu 2. Trên nhưng đây lại là Tây Đoài, Đoài thuộc thiếu nữ nên hại đến cho thiếu nữ.Câu 4: Tốn nhập Khôn vị Mẫu ly Ông.
Đại môn phương Tốn cũng như môn phương Chấn, bởi Tốn hay Chấn cũng thuộc Đông tứ trạch khắc Khôn Thổ, phòng trang (Trang là sắp đặt mỗi món nào đó) Khôn vi Mẫu tất nhiên lão mẫu thọ hại lìa lão ông. 
Câu 5: Đoài phòng Chấn Tốn trưởng nhi nữ.
Đại môn phương Đoài Kim dụng trạch Chấn, Chấn vi trưởng nam. Chấn Mộc bị Đoài Kim khắc ứng tổn trưởng nam, dụng Tốn vi trưởng nữ thuộc Đông trạch vẩn bị khắc tất hại trưởng nữ.
Câu 6: Cấn Ly Âm phụ hoai gia phong
Đại môn phương Cấn Đông Bắc thuộc Tây Trạch, phòng trang (dựng phòng) an Ly Hỏa. Cấn phối Ly phạm Họa hại - Lộc tồn tinh. Phương Cấn chủ nữ mạng trong 
Phong thủy Lạc Việt sinh phạm Họa hại, do Hỏa sinh (Ly Hỏa phòng thuộc Âm, Đại Môn Cấn thuộc Dương) là Âm vượng, Dương suy mà Âm phụ làm hoai gia phong vậy. (Nói nôm na là đàn bà sanh chứng).Câu 7: Cấn Khảm tiểu khẩu đa tật bệnh.
Đại môn phương Cấn, ốc trạch phương Khảm. Cấn phối Khảm phạm Ngũ quỷ Liêm trinh Hỏa, mắc phải tai tiếng nhẹ lại sanh nhiều bệnh tật.
Câu 8: Khôn Khảm trung nam mạng tảo chung. 
Đại môn phương Khôn Thổ khắc Khảm Thủy phòng ốc. Khảm Khôn phạm Tuyệt mạng - Phá quân. Khôn Thổ khắc Khảm Thủy, Khảm thuộc trung nam, ứng hại trung tử (con giữa) vậy.

Như vậy, anh chị em thấy rằng: Ngay trong Bát trạch, cũng đặt vấn đề tính nhất quán trong kiến trúc nhà ở. Đông trạch thì Đông trù, Phòng ốc liên quan đến trạch nhà và hướng nhà cũng rất cần xem xét. Thông thường nhà ở hiện nay là nhà ống, Hướng nhà khó chọn thì chúng ta dùng hướng bếp thay thế và cân nhắc trong việc đặt hành lang, cửa phòng, hướng cửa phòng....
Qua đây một lần nữa chúng ta thấy rằng: Trong Dương trạch tam ỵếu có quan điểm cho rằng: Bất luận gia chủ phi cung mạng gì thì tính nhất quán trong nhà ở vẫn phải coi trong. Thì ở đây - Bát trạch - chính là bước đầu khởi tạo chọn hướng phù hợp với gia chủ để sau đó tiếp tục ứng dụng Dương trạch tam yếu (Cấu trúc hình thể theo cách gọi của Phiong Thủy Lạc Việt - sẽ học sau các yếu tố Bát trạch Lạc Việt).

Bài 15


NGUYÊN LÝ:
DƯƠNG TRƯỚC ÂM SAU VÀ ÂM THUẬN TÙNG DƯƠNG TRONG PHONG THỦY LẠC VIỆT
Anh chị em thân mến,
Trong ứng dụng phong thủy, vì một nguyên lý lý thuyết đã thất truyền khi nền văn minh Lạc Việt sụp đổ ở miền nam sông Dương Tử từ hơn 2000 năm trước nên tất cả các phương pháp ứng dụng của lý học Đông phương đều thiếu hẳn một lý thuyết nền tảng phản ánh một thực tại tạo ra nó. Bởi vậy những phương pháp luận của nó và phương pháp ứng dụng đều mơ hồ và một thời bị coi là mê tín dị đoan. Khi cuộc sống hiện đại phát triển, những phương pháp ứng dụng - do thiếu một nền tảng lý thuyết căn bản - nên không phát triển theo kịp cuộc sống hiện đại. Từ đó, các phong thủy gia đưa ra các quan niệm về khả năng ứng dụng mới, không hề có cơ sở hợp lý trong phong thủy. Những quan niệm này cho rằng:
* Bếp phải theo tuổi vợ mà không theo tuổi chống. Vì bếp là nội gia thuộc về người vợ.
* Họ cũng quan niệm rằng: Ngày xưa dưới chế độ phong kiến thì làm nhà theo tuổi đàn ông. Bây giờ nam nữ bình đẳng thì ai là người làm ra kinh tế trong gia đình thì lấy cung phi người đó làm căn bản.
Hoặc giả những phương pháp rời rạc như Dương Trạch Tam Yếu thì lúng túng trong việc phiên tinh tầng nhà, khi những nhà cao tầng xuất hiện. Phương pháp Huyền Không thì lúng túng khi giải thích một loạt những căn nhà phố cùng sơn hướng và kiến trúc giống hệt nhau. Phương pháp Loan Đầu Thủy Pháp thì không liên hệ được những căn nhà trong các khu phố hiện đại khi mà hình thể sông ngòi, thế đất đều được qui hoạch bằng phẳng.
Chính những điều này sẽ cho chúng ta thấy được tính ưu việt của 
Phong thủy Lạc Việt, vốn là sự tổng hợp của những yếu tố tương tác một cách nhất quán trong một nguyên lý căn để là "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ" và thuyết Âm Dương Ngũ hành là một học thuyết nhất quán , hoàn chỉnh. Trên cơ sở này, Phong Thủy Lạc Việt sẽ giải quyết một cách hợp lý các tình trạng nói trên.
Nguyên tắc nhất quán của Phong Thủy Lạc Việt là:
"Dương trước Âm sau" và "Âm thuận tùng Dương".
Nguyên lý này được phát biểu nhân danh thực trạng từ khởi nguyên vũ trụ mà tôi đã nói ngay từ phần mở đầu khi giải thích 
"Thái cực sinh lưỡng nghi".
Chúng ta không nên hiểu một cách máy móc rằng "Dương là đàn ông" và "Âm là phụ nữ". Nam Dương, Nữ Âm chỉ là sự phân biệt đồng đẳng cùng loại. Trong cùng loại thì Đực Cái phân Âm dương theo tính đồng đẳng không gian. Nhưng theo chiều thời gian cùng đẳng hướng thì "Dương trước Âm sau". Giống cái cũng có thể là Dương ,trong trường hợp mẹ con. Vì mẹ trước con sau theo trục thời gian và đẳng hướng.
Đây chính là lý do mà cần phải có cung phi nữ. Việc cần có cung phi nữ trong phi cung Bát trạch thể hiện tính bình đẳng nam nữ trong nền văn hiến Lạc Việt huyền vĩ. Đó chính là thể hiện sự quan tâm đến phụ nữ khi họ là: mẹ góa con mồ côi. Khi họ góa chồng và sống một mình ....
Trên nguyên lý này: Thì bất luận nhà có chủ quyền của ai, ai làm ra kinh tế gia đình, ai là người sở hữu nhà thì Phong Thủy Lạc Việt vẫn lấy nguyên lý: 
"Dương trước Âm sau" làm nền tảng để quán xét. Dương có thể là nam hoặc nữ theo nguyên lý trên.
Thí dụ:
1) Trong ngôi gia của một cặp vợ chồng trẻ. Ngôi nhà do chính hai vợ chồng này mua và đứng tên chủ quyền. Nhưng họ nuôi thêm một bà chị vợ tật nguyền. Theo nguyên lý "Dương trước Âm sau" thì người chị này chính là Dương và hai vợ chồng người em là Âm. Dù người chồng đứng chủ quyền nhà và thậm chí lớn tuổi hơn chị vợ. Nhưng tính đồng đẳng của người chồng thì là ngang hàng với vợ và là thuộc về thế hệ có sau so với bà chị vợ. Theo nguyên lý Âm thuận tùng Dương thì căn nhà này phải được định hướng theo phi cung Bát trạch của người chị.
2) Trong một ngôi gia của một cặp vợ chồng bỏ tiển mua và đứng chủ quyền, có nuôi một ông bố (hoặc bà mẹ) về hưu và cùng chung sống trong đó là một bà vú (osin), ngày xưa đã từng từng bế ẵm chính ông bố này. Tất nhiên bà vú này đã già và rất lớn tuổi. Trong trường hợp này thì ông bố (hoặc bà mẹ) mới chính là Dương và phải tính bát trạch theo tuổi ông bố (hoặc bà mẹ) này. Bà vú tuy lớn tuổi nhưng không thuộc trục thời gian đẳng hướng. Tức là không cùng huyết thống.
Trên cơ sở này thì hướng bếp cũng phải phù hợp với hướng cung phi bản mệnh của người được qui ước là Dương (Bất luận nam nữ). Điều này cũng phù hợp với tính nhất quán hợp lý trong kiến trúc nhà cửa chính là: 
Đông trạch thì đông trù, Tây trạch thì Tây trù. (trù = bếp)
Một trường hợp khác:
Một người nữ có chồng và có một cơ sở kinh doanh. Sẽ những trường hợp phải giải quyết về cung phi liên quan đến trạch nhà như sau:
1) Người nữ này kinh doanh một mình không có chồng tham gia.
1- 1: Cơ sở này chung với nhà ở: Vẫn theo tuổi người chồng.
1 - 2: Cơ sở này do vợ thuê không dùng làm nhà ở: Theo tuổi người vợ.
2) Hai vợ chồng cùng kinh doanh, dù người chồng không đứng tên, hoặc chỉ đóng vai trò phụ.
Trường hợp này lấy cung phi người chồng.
Đây là tính nhất quán của Phong thủy Lạc Việt có cơ sở nhận thức thực tế từ khởi nguyên vũ trụ cho đến mọi vấn đề liên quan đến con người của một lý thuyết thống nhất vũ trụ.

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Bài 14


KIẾN TRÚC THEO BÁT TRẠCH LẠC VIỆT

I - NHỮNG KHÁI NIỆM CĂN BẢN

Bát trạch Lạc Việt là một trong 4 yếu tố tương tác căn bản của phong thuỷ, tuy không có sự tính toán phức tạp như việc ứng dụng các yếu tố khác, nhưng rất quan trọng trong phong thuỷ thiết kế nhà ở. Bát trạch chủ yếu xét sự tương tác của 8 hướng trên Địa bàn ảnh hưởng tới con người. Như phần trên tôi đã trình bày:
Trong Bát trạch chia con người là 
Đông và Tây Tứ cung hợp với Đông hoặc Tây Tứ trạch.

* Tuổi người tính theo năm sinh, căn cứ vào bảng Huyền Không phi tinh đã lập thành ở trên để phân 
Đông Tây tứ cung.
* Đông Tứ Cung và Tây Tứ cung được ghi nhận như sau:
Các quái trạch thuộc Đông Tứ trạch là: 
Khảm - Chấn – Ly - Tốn .
Các quái trạch thuộc Tây Tứ trạch là: Đoài – Càn - 
Cấn - Khôn .
Dưới đây là hình biễu diễn tương quan 8 mệnh chủ thuộc Đông Tây trạch với 8 hướng:
I -1: Người Tây Tứ cung:
I - 1 -1: Người phi cung Càn:

I -1 - 2: Người phi cung Cấn:


I - 1 - 3: Người phi cung Khôn:


I - 1- 4: Người phi cung Đoài:

I - 2: Người Đông tứ cung
I - 2 - 1: Người phi cung Khảm:

I -2 - 2: Người phi cung Chấn
I - 2 - 3: Người phi cung Ly:



I - 2 - 4: Người phi cung Tốn.

Qua hình trên phân cung Đông Tây trạch thì các cung hướng tốt là được qui ước cụ thể theo thứu tự từ Tốt nhất đến tốt ít nhất, và từ Xấu nhất đến xấu ít nhất là: Sinh Khí, Thiên Y, Phúc Đức, Phục Vị. Các hương xấu là: Ngũ Quỉ, Tuyệt Mạng, Lục Sát, Họa Hại. Tính chất cụ thể của ý nghĩa tốt xấu từng cung với gia chủ sẽ tiếp tục học trong các bài tiếp theo. Hương xấu của người Đông cung là hướng tốt của người Tây cung và ngược lại. Lưu ý:
Về quái trạch liên quan Đông - Tây tứ trạch thì Phong thuỷ Lạc Việt và từ sách có gốc chữ Hán giống nhau . Chỉ khác phương vịTốn/ Tây Nam - 
Khôn/ Đông Nam.
Tham khảo
QUI LUẬT HOÀN HẢO CỦA HẬU THIÊN LẠC VIỆT PHỐI HÀ ĐỒ
Trong tương quan quái mệnh và Bát Trạch Lạc Việt
Tính quy luật là một trong những yếu tố cần trong tiêu chỉ khoa học cho một phương pháp và lý thuyết khoa học.
Hình dưới đây biểu diễn tương quan quái mệnh và Bát trạch trong Bát trạch Lạc Việt. Các quái mệnh và tám phương vị tương quan được biểu diễn theo thuận tự chiều kim đồng hồ - qui luật của Hà Đồ - bắt đầu từ Càn Kim. Quí vị quan tâm cũng sẽ nhận thấy tính quy luật hoàn hảo của mối tương quan này.
Điều này không thể có trong Hậu Thiên Văn Vương phối Lạc Thư dù được sắp xếp như thế nào.

ĐỒ HÌNH TƯƠNG QUAN QUÁI MỆNH VÀ BÁT TRẠCH
VinhL
Hkeikun 
thể hiện
Học viên khóa II Phong Thủy Lạc Việt.

II - PHƯƠNG PHÁP CHỌN ĐẤT CẤT NHÀ THEO BÁT TRẠCH LẠC VIỆT
II - 1: Trong điều kiện diện tích đất đã ổn định cần chọn vị trí cất nhà. 
Có nhiều yếu tố để chọn vị trí:
* Theo Hình lý khí.
* Theo Huyền Không
* Theo Bát trạch.
Ở mục này chúng ta xét chủ yếu theo phương pháp Bát trạch (Sau này khi học đến các phương pháp Huyền không và hình lý khí thì chúng ta sẽ nghiên cứu tính phối hợp của các phương pháp này trong Phong Thủy Lạc Việt).
Thông thường, trong diện tích đất đã chọn, người ta chọn vị trí cao ráo, sạch sẽ để làm nền nhà. Điều này có liên quan đến phương pháp ứng dụng hình lý khí như sau:
II - 2: Khái niệm căn bản về Âm Dương trong ứng dụng theo Phong Thủy Lạc Việt.
Khái niệm chuyên sâu về khí chúng ta sẽ học sau phần Dương Trach Lạc Việt (Cấu trúc hình thể trong Phong thủy Lạc Việt). Ở bài này, tôi chỉ phân tích cổ thư và khẳng định tính đúng đắn trong mớ hỗn độn tranh cãi hiện nay của các phong thủy gia.
Trong thuyết Âm Dương Ngũ hành viết liên quan đến phong thủy cho rằng:
* “Âm thăng. Dương giáng”
Điều này được diễn tả như sau: Khí Âm thăng (Bay lên) - tức toả ra theo quan niệm hiện đại – và Dương giáng, tức hút vào hành tinh. Khí Âm, tức khí của các hành Tinh (Âm tụ thành hình) trong đó có Trái Đất của chúng ta. Khí Dương là khí trong vũ trụ tương tác với Địa cầu.
* "Âm nhô cao, Dương trũng thấp". 
Điều này được diễn tả như sau: Đây là hệ quả của nguyên nhân trên. Bởi vì trong cấu trúc địa hình trái đất có chỗ trũng thấp như ao hồ, chỗ cao như núi non. Vì Âm khí - khí của địa cầu tỏa ra - nên tỏa cực đại ở núi cao, cực tiểu ở ở trũng thấp. Dương khí giáng xuống nên tụ ở trũng thấp.
Nhưng hiện nay, do căn cứ vào cổ thư viết:"Khi hỗn độn đã phân, Khí Dương nhẹ và trong bay lên thành trời. Khí Âm đục và nặng, tụ xuống thành đất". Cho nên, các phong thủy gia hiện đại đã hiểu sai và rất nhiều phong thủy gia cho rằng nhô cao là Dương và trũng thấp là Âm. Thậm chí có những bài viết gần đây trên báo mạng trong nước - khi phân tích về phong thủy Hà Nội - nhiều phong thủy gia vẫn lý luận như vậy. Thực chất câu "Khí Âm tụ lại" và "khí Dương bay lên" là sự hiểu sai sự hình thành vũ trụ do không hiểu biết về sự lý giải hình thành vũ trụ theo thuyết Âm Dương Ngũ hành. Trong sự hình thành vũ trụ thì Âm tụ lại thành các thiên thể, và Dương khí tỏa ra (Bay lên). Nhưng khi vũ trụ hình thành thì Âm khí tỏa ra từ các thiên thể và Dương khí tương tác - như tôi đã trình bày ở trên.
Phong thủy Lạc Việt xác định rằng:
Trong phân tích về hình thể thì 
"Âm thăng, Dương Giáng" và "Âm nhô cao, Dương trũng thấp".
Hay nói cụ thể hơn: Núi đồi, mô đất là Âm. Ao hồ, thấp trũng là Dương.
Chính vì khí Âm thăng, nên ở các nơi đất cao, gò cao, núi cao – trong phong thuỷ qui ước thuộc Âm – vì Âm khí tụ ở đó. Chính vì khí Dương giáng, nên ở những nơi ao, hồ, khuyết lõm… - trong phong thuỷ qui ước thuộc Dương – vì khí dương tụ ở đó. Người ta chọn nơi cao ráo trên diện tích đất chính vì khí âm tụ ở đó. Nhưng tôi nói cao thấp là phân biệt tương đối . Nếu cao quá , như ngọn đồi và thấp quá như đất sình lầy đếu bất cập . Vấn đề này sẽ học, khi vào chuyên sâu Hình Lý khí.
Trong Bát trạch - nếu chọn chỗ đất cao nhưng không thuộc phương vị tốt hoặc thỏa mãn các tiêu chí tốt trong Phong Thủy cũng sẽ bất lợi. Tất nhiên, nếu chỗ đất cao và hợp phương vị tốt là tốt nhất. Trong trường hợp chỗ đất cao không hợp phương vị thì chọn chỗ đất cao ở phương vị tốt của gia chủ (có thể nó thấp hơn chỗ khác , nhưng thuộc phương vị xấu). Sau khi đã chọn đất , ta tiến hành chọn hướng nhà.
II -3: Chọn đất theo Bát trạch Lạc Việt:
Giả thiết chúng ta có một miếng đất đã ổn định với diện ích 30x 50 mét như dưới đây. Gia chủ thuộc Tây tứ cung. Các phương vị tốt sẽ là Tây (Đoài) - Tây Bắc (Càn) - Đông Bắc (Cấn) và Đông Nam (Khôn). Hình thể miếng đất cao ở phía Đông và Đông Nam . Nhưng phần Đông Nam hơi thấp hơn phần phía Đông. Tôi lưu ý là tính cao thấp chỉ tương đối - không chênh lệch nhau quá lớn . Nếu theo phương pháp hình lý khí thì sẽ chọn vùng đất phía Đông để cất nhà. Nhưng theo Bát Trạch và cân đối với phương pháp hình lý khí thì Bát trạch Lạc Việt sẽ chọn miếng đất phía Đông Nam. Tôi cũng lưu ý là đây thuần túy ứng dụng Bát trạch, các phương pháp khác ko tính tới trong trường hợp này.
Xin xem hình minh họa sau đây:
II - 2 - 1: 
HÌNH THỂ ĐẤT
II - 2 - 2:
VỊ TRÍ CẤT NHÀ THEO 
BÁT TRẠCH LẠC VIỆT


Anh chị em cũng lưu ý rằng: 
Trong điều kiện miếng đất tương đối bằng phẳng thì vị trí tối ưu chính là phương Tây Bắc, Tây của miếng đất này. Nhưng nếu đặt ở đây mà quay về hướng Tây (như căn nhà minh họa trên) thì phía trước nhà hướng Tây, sẽ có diện tích hẹp (Minh Đường hạn hẹp) và đây là điều không tốt theo phương pháp hình lý khí ( Sẽ học sau). Bởi vậy, Phong thủy Lạc Việt là sự kết hợp tối ưu tất cả các phương pháp (Các nhà nghiên cứu gọi là "Trường phái").






Thứ Bảy, 8 tháng 12, 2012

Bài 13


PHÂN CUNG ĐỊNH HƯỚNG
I - Phương Pháp Đo La Bàn
Đây là phương pháp theo kinh nghiệm cá nhân tôi, anh chị em có thể tìm phương pháp giản tiện hơn để định vị hướng nhà, hướng đất.
Chúng ta đều biết rằng: Kim La bàn luôn luôn chỉ hướng Bắc (Hoặc hướng Nam, nếu dùng La Kinh). Bởi vậy, khi đo la bàn tìm hướng nhà hoặc đất, chúng ta tìm vật định vị chuẩn liên quan đến hướng đất hoặc nhà.
Thí dụ:
Khi đo hướng nhà tôi thường dùng vạch kẻ tạo nên khi lót gạch nền nhà, hoặc một bên tường nhà, hoặc vạch cửa làm vật định vị chuẩn.
Dưới đây là hình minh họa lấy vạch kẻ gạch lót nền làm định vị chuẩn của hướng nhà.


(Khi đo hướng đất, tôi dùng ranh đất được định vị trên bản đồ tương ứng với các vật liên quan như: Đường giao thông, sông rạch….được vẽ trên bản đồ để định vị.
Khi xác định phương vị bằng la bàn chúng ta có độ hướng theo định vị. Từ đó ta có hướng nhà theo định vị chuẩn.
Giả thiết hướng nhà trong hình dưới đây, chúng ta đo được là 335 độ (Trong phong thuỷ thiết kế nhà ở được phép sai số 1 độ Âm Dương, tổng cộng là 2 độ).



Tạm thời chúng ta ứng dụng phương pháp đo căn bản này, sau này chúng ta sẽ có một chương nghiên cứu kỹ có tính chuyên đề qua sách “La Kinh thấu giải”.II - Phân Cung - Định Hướng
Trên cơ sở hướng đã định bởi la bàn, chúng ta vẽ lại sơ đồ nhà, hoặc đất theo tỷ lệ quy ước (Thường là 1 cm = 1m), rồi định tâm nhà , hoặc đất theo bài giảng ở trên. Sau đó chúng ta lần lượt tiến hành từng bước sau đây:
II - 1: Định hướng.
Từ tâm nhà đã định, chúng ta kẻ đường thẳng song song (Tường nhà, dấu gạch nền…), hoặc vuông góc (Bậc thềm nhà, ngạch cửa…) với vật thể định vị chuẩn qui ước. Phần lớn các trường hợp đây chính là hướng nhà.
II - 2: Phân cung.
Trên cơ sở phân phương vị ở bài trên, chúng ta biết rằng:
* Bắc: Từ 337, 5 độ - 0độ (Chính Bắc) - 22, 5 độ; Quái Khảm quản.
* Đông Bắc: 22,5 độ - 45 độ (Chính Đông Bắc) - 67, 5 độ. Quái Cấn quản.
* Đông: 67,5 độ - 90 độ (Chính Đông) - 112,5 độ. Quái Chấn quản.
* Đông Nam: 112, 5 độ - 135 độ (Chính Đông Nam) - 157, 5 độ.Quái Khôn quản. (Theo Phong Thủy Lạc Việt).
* Nam: 157, 5 độ - 180 độ (Chính Nam) - 202,5 độ.Quái Ly quản
* Tây Nam: 202,5 độ - 225 độ (Chính Tây Nam) - 247.5 độ. Quái Tốn quản (Theo Phong Thủy Lạc Việt)
* Tây: 247,5 độ - 270 độ (Chính Tây) - 292, 5 độ. Quái Đoài quản.
* Tây Bắc: 292,5 độ - 315 độ (Chính Tây Bắc) - 337, 5 độ. Quái Càn quản.
Trở lại thí dụ trên – la bàn đo được 335 độ - ta thấy rằng hướng này thuộc Tây Bắc (Từ 292. 5 đến 337,5 độ).
II - 2 - 1:
Dùng thước đo độ, đặt tâm của thước đúng tâm nhà trên bản vẽ và định vị điểm 2, 5 độ sang phải (337,5 – 335 = 2,5 độ). Ta có đây chính là cạnh phân giới Tây Bắc - Bắc .

II - 2 - 2:
Từ cạnh phân giới Tây Bắc - Bắc, tiếp tục dùng thước đo độ định vị các phương vị, mỗi phương vị 45 độ. 


II - 2 - 3:

Từ các điểm đã định vị ở trên chúng ta kẻ các đường xuyên tâm để phân tám cung. Xem hình minh họa sau.




Thông thường sau khi phân 8 cung, tôi ghi phương vị từng cung và phân định Đông Trạch với Tây Trạch bằng bút dạ quang màu vàng. Trong hình minh họa trên, giả thiết gia chủ có cung phi thuộc Tây tứ cung thì 4 cung thuộc Tây trạch được phân biệt bằng bút dạ quang màu vàng để khỏi lầm lẫn.
II - 2 - 4: 
Xác định Trung cung – đây chính là cung thứ 9 của căn nhà, ngoài tám phương vị đã nêu. Cung này có ý nghĩa đặc biệt trong thiết kế theo Phong Thuỷ, kể cả âm trạch lẫn dương trạch (Chúng ta sẽ học sau). Trung cung chính là phần đất nằm giữa nhà. 



Trong Phong Thuỷ Lạc Việt, trung cung được định nghĩa như sau:
Hình đồng dạng với hình thể diện tích nhà có tỷ lệ 1/3 đặt đồng tâm với hình thể diện tích nhà chính là phần trung cung của căn nhà.
Với diện tích nhà là hình chữ nhật, hay hình vuông, thang …. Thì chúng ta chỉ cần chia các cạnh thành 3 phần và kẻ các đường nối để định vị trung cung. Với các hình quá phức tạp thì chúng ta phải sử dụng máy vi tính để thu nhỏ hình theo tỷ lệ để định trung cung. Hoặc trong trường hợp quá phức tạp mà anh chị em không có khả năng dùng kỹ thuật vi tính để thu nhỏ 1/ 3 thì chúng ta tạm xác định trung cung bằng một vòng tròn có bán kính bằng khoảng 1/3 chiều ngang nhà để định trung cung bằng compa. Sau đó ước lượng vẽ bằng tay.
Trường hợp cụ thể ở hình thể chữ L trên, Trung cung bị khuyết hãm (Thiếu phần nằm ngoài diện tích , thể hiện bằng giới hạn chấm đỏ). Đây cũng là lý do mà nhà hình chữ L thường hay được coi là xấu trong phong thủy (Sẽ học sau).
HÌNH MINH HỌA TRUNG CUNG
KHI DIỆN TÍCH CHỮ NHẬT, HÌNH VUÔNG ...




Trung cung trong phong thuỷ do hai quái là Khôn - tượng nam giới và Cấn - tượng nữ giới quản.
Anh chị em thân mến .
Đến đây là những tri thức căn bản ban đầu, để từ đó chúng ta bước vào tìm hiểu các phương pháp ứng dụng của Phong thủy Lạc Việt trong những bài tiếp theo. Anh chị em có sáng kiến gì để qui trình thực hiện đơn giản hơn, xin đóng góp. Nếu có thắc mắc đưa ý kiến bàn trong Quán Cafe Online Phong thủy Lạc Việt .

Bài Tham Khảo
Anh chị em thân mến.
Bài viết dưới đây của Langtu - học viên khóa II Phong Thủy Lạc Việt viết về phương pháp tính trung cung một cách dễ hiểu cho mọi trình độ. Tôi biên tập lại và chính thức coi là bài học về phương pháp tìm trung cung trong phong thủy cho mọi hình thể phức tạp, cũng ứng dụng phương pháp này. Việc định vị phần trung cung rất quan trọng trong thiết kế và sửa chữa phong thủy mà anh chị em sẽ học sau này. Nên anh chị em cần nắm vững khái niệm và phương pháp xác định Trung Cung.
PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRUNG CUNG NHÀ THEO PHONG THỦY LẠC VIỆT
 Langtu
Để xác định được trung cung nhà - căn cứ vào phương pháp định tâm của Phong thủy Lạc Việt - chúng ta có thể ứng dụng phương pháp sau đây, có thể vẽ rất nhanh, dễ dàng và chính xác trung cung cho hầu hết các sơ đồ nhà mà chỉ cần thước thẳng cho những bạn không thông thạo kỹ thuật máy tính.

I - PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRUNG CUNG NHÀ : 
Bước 1 :
Vẽ các đường thẳng nối từ tâm của căn nhà đến các đỉnh biểu kiến của sơ đồ nhà. (giao của các ranh nhà). Chúng ta tham khảo hình sau đây:


Bước 2: 
Chọn một trong số các đường thẳng đã vẽ ở bước 1, chia đoạn thẳng làm 3, theo hướng từ tâm nhà đến đỉnh nhà, ở cung 1/3 đầu tiên ta sẽ xác định được một đỉnh của trung cung (cơ sở lý thuyết sẽ trình bày sau). Trong hình dưới đây, nếu ta chọn OB làm đoạn thẳng cần chia thì đỉnh tìm được chính là B1.


Bước 3: 
Từ B1, ta kẻ các đường thẳng song song các ranh nhà AB và BC cắt các đường nối tâm tới đỉnh, ta sẽ tìm được các đỉnh tiếp theo của trung cung. Trong hình dưới đây là A1, C1:



Bước 4: 

Từ các đỉnh mới tìm được, lặp lại bước 2, chúng ta lại kẻ các đường song song với các ranh nhà, chúng ta sẽ tìm được các đỉnh tiếp theo của trung cung, quá trình cứ thế tiếp tục cho đến khi tìm được hoàn tất trung cung của căn nhà:


II - CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP

Định lý Ta-lét: Nếu một đường thẳng song song với một cạnh trong tam giác và cắt hai cạnh còn lại thì nó định ra trên hai cạnh đó những đoạn thẳng tương ứng tỉ lệ. Định lý đảo: Nếu một đường thẳng cắt hai cạnh của tam giác và định ra trên hai cạnh đó những đoạn thẳng tương ứng tỉ lệ thì đường thẳng đó song song với cạnh còn lại của tam giác.

Theo định lý Ta-lét, nếu xét tam giác OBC, ta có:

OB1/ OB = OC1/OC = B1C1/BC = 1/3 

Tương tự, ta có: OA1/OA = A1B1/AB = 1/3, OC1/OC = O1D1/OD = C1D1/CD = 1/3, 

Như vậy theo định lý Ta-lét và định lý đảo thì A1B1C1D1E1F1 chính là trung cung của căn nhà.

Lưu ý:

- Đối các sơ đồ nhà có dạng nhiều góc cạnh gấp khúc thì phương pháp này sử dụng rất tốt vì ta luôn có thể chia nhỏ ngôi nhà thành các tam giác có một đỉnh là tâm O và hai đỉnh còn lại là hai đỉnh của 1 ranh nhà.

- Nếu các sơ đồ nhà có các ranh dạng đường cong hoặc đường tròn thì phương pháp này vẫn sử dụng được nhưng cần biến hóa tùy theo tình hình thực tế, thay vì kẻ các đường thẳng song song chúng ta vẽ các cung tròn đồng dạng vẫn theo tỷ lệ 1/3 (Trong bài giảng có hướng dẫn).

III - MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU PHỤC HỒI PHONG THỦY LẠC VIỆT:

Tối hôm qua khi đang xem hình vẽ La kinh của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh trong bài xác định hướng nhà, đột nhiên tôi nghĩ đến một vấn đề như sau:

Người ta thường nói “Người Trung Quốc phát minh ra la bàn, nhưng chỉ biết dùng để xem phong thủy, nhưng người Tây phương học lại cách làm la bàn của người Trung Quốc mà biết cách ứng dụng vào hàng hải để đi thám hiểm, buôn bán khắp năm châu”.

Trong các bài giảng 
Phong thủy Lạc Việt cũng như trong các công trình nghiên cứu của tác già Nguyễn Vũ Tuấn Anh đã công bố chứng minh rằng lý thuyết Phong thủy mà người Trung Quốc có hiện nay chính là của nền Văn hiến Lạc Việt huyền vĩ trước kia. Nếu vậy, phải chăng la bàn (một dụng cụ quan trọng trong Phong thủy) cũng là của nền văn hiến Lạc Việt để lại chứ không phải là người Trung Quốc sáng tạo ra? Nếu tìm được chứng cứ chứng minh được điều này chúng ta sẽ có thêm một luận cứ quan trọng khẳng định Phong thủy chính là di tích của Văn hiến Lạc Việt.
Tôi đã suy tư nhiều để thử liên hệ đến các câu chuyện lịch sử và dân gian Việt Nam và Trung Quốc, tìm cơ sở liên hệ để chứng minh luận điểm trên. Nhưng do hiểu biết cá nhân còn nhiều hạn hẹp nên không tìm được chứng cứ nào, tuy vậy tôi cũng có một số nhận xét như sau:

- Trong sử sách Hán cổ không ghi lại tác giả - người sáng tạo ra la bàn mặc dù để hiểu được tính chất và quy luật của la bàn vào thời cổ đại (một tri thức khó của thời kỳ đó) thì người sáng tạo phải là người có học thức cao và có địa vị quan trọng của xã hội. Điều này có vẻ không hợp lý. Như vậy, việc nói người Trung Quốc sáng tạo ra la bàn chưa có bằng chứng chứng minh chính xác 100%.
- Vẫn câu nói trên: “Người Trung Quốc phát minh ra la bàn nhưng ...”, có thể giả định là vì người TQ chỉ thừa hưởng la bàn từ một trong nhiều nguồn lưu truyền rời rạc – không được đầy đủ của 
Phong thủy Lạc Việt nên chỉ dám ứng dụng máy móc trong Phong Thủy mà không dám sáng tạo thêm và dùng vào việc khác như Phương Tây (cái này chỉ là giả định cá nhân của tôi dựa trên việc thiếu tư liệu lịch sử về việc sáng chế la bàn và các nghiên cứu của Sư phụ về nguồn gốc thuật Phong thủy chứ hiện nay mặc nhiên cả thế giới đều công nhận người Trung Quốc đã phát minh ra la bàn, giấy và thuốc nổ).
- Xem xét truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh, ngoài nhận định của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh về việc chọn người kế thừa (Sơn Tinh hay Thánh Tản Viên) chấp thuận lưu truyền Văn hiến Lạc Việt của Hùng vương thứ 18 (Tham khảo bài Giấc mơ bí ẩn của tác giả Nguyễn Vũ Tuấn Anh đăng trên Việt lý số) thì tôi xin bổ sung thêm là:
    
Việc chọn Tản Viên làm người kế thừa cũng tương tự như việc chọn địa điểm để lưu lại những di sản văn hóa vật thể thì các vua Hùng đã chọn các địa điểm trên núi cao (ví dụ như Bãi đá cổ Sapa) thay vì miền đồng bằng ven sông vốn hay bị lũ lụt (các trận lũ thời cổ đại mới chính là những cuộc tàn phá nặng nề nhất, hơn cả chiến tranh vì những trận lũ lớn có thể xóa sạch cả những bộ tộc người và cuốn trôi, xóa sổ tất cả các di tích văn hóa của cả một vùng miền). 
     Trong lịch sử khảo cổ của nhân loại ngày nay cũng ghi nhận nhiều khám phá khảo cổ tìm thấy trong các hang động thời tiền sử (Cận đại ngay trong lịch sử Trung Quốc cũng ghi nhận việc tìm thấy các hình vẽ và chữ viết tượng hình của người Dao trong các hang động trên dãy núi Hoa Sơn). Bởi vậy, tôi hy vọng rằng di tích văn hóa vật thể của Văn hiến Lạc Việt không chỉ có một bãi đá cổ Sapa mà còn đâu đó trong các hang động miền núi phí Bắc mà các nhà thám hiểm và khảo cổ vẫn chưa tìm ra (Trang khoa học của Vnexpress có đăng tin về việc Việt Nam mới tìm thấy thêm một hang động cổ ở vùng Phong Nha – Kẻ Bàng).
- Lật lại lịch sử Việt Nam và Trung Quốc, có rất nhiều lần đốt sách, phá hoại văn hóa ở Trung Quốc và Việt Nam. Ở Việt Nam thì lần cuối cùng là vào thời giặc Ngô hay giặc Minh (theo hiểu biết của langtu, có thể không chính xác), sách sử chỉ ghi chung chung là để đồng hóa dân ta nhưng không ghi cụ thể là đốt sách để đồng hóa cái cái gì (lịch sử dân tộc hay tri thức, …), đồng hóa như thế nào…?

Theo diễn giải của tôi thì đến thời kỳ đó trong dân gian Việt Nam vẫn còn lưu truyền được những chứng tích văn hóa, lịch sử và một số tri thức còn lại của nền 
Văn hiến Lạc Việt – niềm tự hào của dân tộc Việt. Giặc Minh đốt
sách chính là để một lần nữa tìm cách đánh vào niềm tự hào dân tộc với những tri thức tiến bộ của người Việt (nói tri thức tiến bộ là vì trước đó Việt Nam là nước duy nhất ở châu Á chiến thắng oanh liệt cả 3 đợt xâm lăng của quân Mông Cổ, như vậy ngoài lòng yêu nước, chiến lược, chiến thuật chúng ta cũng phải có một công nghệ chế tác vũ khí, phương tiện tương đương với người Mông Cổ lúc đó đã tiếp thu phần lớn văn minh của người Hán, đồng hóa người Hán và bị người Hán đồng hóa chứ nếu chỉ tầm vông với lòng yêu nước thì e rằng chưa đủ), hoặc quan trọng hơn có thể là giặc Minh một lần nữa tìm cách chôn vùi hoàn toàn nền Văn hiến Lạc Việc hoàn vĩ (vì nói đốt sách là để đồng hóa dân ta thì thực tế thời kỳ đó tuy người dân Việt Nam rất hiếu học, nhưng cuộc sống còn nhiều khó khăn thời đó thì tỉ lệ người biết chữ so trên toàn bộ dân số là cực kỳ ít và số sách có được chắc chắn cũng không nhiều, phần lớn tri thức được truyền lại cho đời sau qua phương pháp truyền miệng). Nếu các nhà sử học tìm được các tài liệu, sách vở đời nhà Hồ (Hồ Quý Ly) trở về trước thì có thể chúng ta sẽ có được những thông tin chính xác hơn về lịch sử và văn hiến Lạc Việt.

Nhận xét phụ: Có một quốc gia từng có một giai đoạn tồn tại và phát triển phồn vinh một thời gian ở giữa Việt Nam và Trung Quốc, đó là nước Đại Lý. Tiếc thay, nó đã diệt vong hoàn toàn (Tôi chỉ biết là lịch sử của Trung Quốc có ghi nhận sự tồn tại của nước Đại Lý chứ phần lớn kiến thức về nước Đại Lý mà tôi có được lại từ các tiểu thuyết của Kim Dung). Có thể có khả năng trong các vết tích văn hóa còn để lại của nước Đại Lý này còn có những thông tin về nền 
Văn hiến Lạc Việt cổ (mà hình như các dấu tích văn hóa của nước này – phát triển song song với thời nhà Tống – cũng bị xóa sổ hoàn toàn trong khi các di tích của nhà Tống thì còn nhiều?). Như vậy nếu có thể tìm được các sách cổ của nước Đại lý này (tọa lạc tại miền đất cũ của tộc người Việt) thì chúng ta sẽ có thể có thêm các thông tin về nền Văn hiến Lạc Việt xưa kia?

Trên đây là một vài ý kiến cá nhân xin được chia sẻ với các nhà nghiên cứu và anh chị em cùng lớp học. 
Langtu
--------------------
Anh chị em học viên Phong Thủy Lạc Việt cơ bản  thân mến.
Các bài trên tôi đã trình bày những phướng pháp định tâm và các định nghĩa, qui ước trong Phong Thủy Lạc Việt. Đồng thời cũng khẳng định nguyên lý căn để và xuyên suốt của phong thủy Lạc Việt mà anh chị em cần thuộc nằm lòng để từ đó triển khai phương pháp nghiên cứu, sáng tạo nhằm củng cố tri thức và phát triển Phong Thủy Lạc Việt sau này. Đó chính là nguyên lý căn để "Hậu Thiên Lạc Việt phối Hà Đồ". Không ứng dụng nguyên lý này thì không thể gọi là Phong Thủy Lạc Việt. Đây là nhưng kiến thức căn bản mà tôi đã truyền đạt.
Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta bắt đầu bắt đầu học đến các phương pháp ứng dụng cụ thể trong Phong Thủy Lạc Việt. Một trong những yếu tố tương tác đầu tiên và cũng là ứng dụng phổ cập nhất chính là Bát Trạch Lạc Việt. Đây là yếu tố tương tác của từ trường trái đất là chủ yếu mà mức độ ảnh hưởng khác nhau qui định trên 8 hướng với căn hộ thông qua tuổi gia chủ. Từ kiến thức căn bản này, anh chị em sẽ tiền tới học các phương pháp ứng dụng cao cấp nhất là Huyền không và Hình lý khí trong Phong thủy Lạc Việt.